Home » Tin tức giải trí » Âm nhạc cung đình – nét đẹp trong di sản văn hóa người Việt

Âm nhạc cung đình – nét đẹp trong di sản văn hóa người Việt

Âm nhạc cung đình Huế hay còn gọi là Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003.


Âm nhạc cung đình

Âm nhạc cung đình Việt Nam chính thức hình thành với sự lên ngôi của triều Nguyễn vào đầu thế kỉ 19. Tuy nhiên, nền tảng ban đầu của Âm nhạc cung đình Việt Nam đã bắt đầu manh nha từ thế kỉ 17 dưới thời các chúa Nguyễn khi vào cát cứ Đàng Trong. Thời kỳ hưng thịnh nhất của âm nhạc cung đình Huế là nửa đầu thế kỷ 19 cho tới thời Vua Tự Đức (1848 – 1883). Khoảng năm 1947-1948, bà Từ Cung (mẹ vua Bảo Đại, vợ vua Khải Định) đã tập hợp một số nghệ nhân cung đình từ thời vua Bảo Đại, nhờ đó một số thể loại ca múa nhạc cung đình được duy trì. Những năm 80 của thế kỷ 20, âm nhạc cung đình Huế bắt đầu được sự quan tâm của Bộ Văn hoá và chính quyền địa phương. Vào những năm 90, âm nhạc cung đình Huế bước vào giai đoạn phục hưng. Từ đó tới nay loại hình nghệ thuật này đã được đưa đi giới thiệu ở nhiều nơi trên thế giới.

vietmusic_am-nhac-cung-dinh-net-dep-trong-di-san-van-hoa-nguoi-viet
Một buổi biểu diễn nhã nhạc tại Huế. Ảnh : vietmusic.net

Các thể loại âm nhạc cung đình Huế bao gồm: nhạc lễ nghi thờ cúng và nhạc lễ nghi triều chính, múa cung đình, ca nhạc thính phòng và kịch hát (tuồng cung đình).

Triều Nguyễn kế thừa với hai tổ chức được coi là tiêu biểu, đó là: Đồng Văn và Nhã Nhạc, có các quy chế và thể thức nghiêm ngặt trong hoạt động, sinh hoạt cũng như trình diễn dưới triều Lê mà Phạm Đình Hổ, trong “Vũ Trung tuỳ bút” đã ghi: “… Khoảng năm Hồng Đức (1470 – 1497) nhà Lê, trên có vua Thánh Tông là bậc minh quân, thông tuệ, lại có các đại thần như các ông Trần Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Lương Thế Vinh… đều là những nhà học vấn uyên bác làm quan tại triều, mới cùng nhau kê cứu thành luật của Trung Quốc, kết hợp với tiếng nước nhà đặt ra hai bộ Đồng Văn và Nhã Nhạc”.

vietmusic_am-nhac-cung-dinh-net-dep-trong-di-san-van-hoa-nguoi-viet -
Nhã nhạc đã đạt tới đỉnh cao của âm nhạc. Ảnh : vietmusic.net

Đồng Văn chuyên lo đảm nhiệm âm nhạc hoà tấu, còn Nhã Nhạc thì chuộng thanh âm chuyên lo nhạc hát. Cả hai bộ phận đều đặt dưới sự điều khiển của quan Thái thường phụ trách. Đó là âm nhạc triều đình. Ngoài ra còn dân nhạc Ty giáo phường thì để lo riêng về âm nhạc dân gian.

Năm 1578 – 1600, vua Lê Thánh Tông cho sát nhập Đại Nhạc và Nhã Nhạc lại, có những nhạc cụ sau: trống ngưỡng thiên lớn, kèn trúc nam vàng lớn, long sinh, long phách, các đàn ba, bốn, mười lăm dây, sáo, trống một mặt sơn vàng, tang mỏng, phách, sanh tiền. Khi nào có lễ tế giao, lễ triều hạ gì lớn hơn mới dùng đến dàn nhạc này. Trong “Đại Nam thực lục” có ghi “… định lại nghị chương về triều hạ, về nhạc cụ, lễ Đại triều ở điện Thái Hoà: Nhã Nhạc một bộ, chuông to một chiếc, khánh lớn một chiếc, chuông nhỏ một bộ gồm mười hai chiếc, khánh nhỏ một bộ gồm mười hai chiếc, trống có trụ hai chiếc, ngữ một chiếc, trống bồng hai chiếc, đàn cầm bốn chiếc, đàn sắt bốn chiếc, tiêu bằng tre có mười sáu ống gồm hai chiếc, tiêu có hai mươi ba ống gồm có hai chiếc, ống sênh gồm hai cái, ống huyên hai cái, phách hai cái. Đại Nhạc một bộ gồm có: hai mươi trống, tám kèn, bốn tù và, bốn sala lớn, bốn sala nhỏ, hai ốc biển, còn các nhạc cụ loại nhỏ khác chỉ dung để hợp tấu ở sân điện Cần Chánh, dùng bao nhiêu thứ vẫn để như cũ.”

vietmusic_am-nhac-cung-dinh-net-dep-trong-di-san-van-hoa-nguoi-viet --
Ảnh : vietmusic.net

Sau năm 1945, Nhã nhạc đã mất không gian vốn có của nó và có nguy cơ mai một dần. Hiện nay Nhã nhạc không còn giữ được diện mạo như xưa, nhưng nó vẫn có thể là một minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa đặc biệt của dân tộc Việt Nam. Tuy đã được duy trì và phát triển qua cả nghìn năm, nhưng ngày nay, các tài liệu lịch sử về Nhã nhạc không còn nhiều, lại phân bố ở nhiều nơi, không có một cơ sở lưu trữ bài bản và hệ thống, các nghệ nhân, người hiểu biết về kỹ thuật diễn xướng cũng như kiến thức về Nhã nhạc còn quá ít ỏi … thực tế đó đã và đang đặt ra nhiều vấn đề nan giải và bức xúc về công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị.

vietmusic_am-nhac-cung-dinh-net-dep-trong-di-san-van-hoa-nguoi-viet ---
Ảnh : vietmusic.net

Từ sau năm 1975, Chính phủ, Bộ Văn hóa Thông tin và lãnh đạo của tỉnh Thừa Thiên Huế đã có nhiều chủ trương, quyết định để bảo tồn loại hình văn hóa độc đáo này. Trong Quyết định 105/TTg ngày 12-2-1996 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Dự án Quy hoạch Bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Huế 1996 – 2010, thì một trong những mục tiêu bảo tồn được xác định là: bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể cung đình Huế, trong đó được khẳng định là nhạc cung đình, múa cung đình, tuồng cung đình và lễ hội cung đình. Từ năm 1992, nhà hát Nghệ thuật Cung đình Huế thuộc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế ra đời, chuẩn bị các cơ sở phục vụ cho công tác bảo tồn âm nhạc cung đình Huế. Để đảm bảo có không gian diễn xướng tương ứng theo lịch sử, Trung tâm BTDTCĐ Huế đã triển khai tu bổ các công trình như Duyệt Thị Đường, Lương Khiêm Đường, Nam Giao, Thế Miếu. Bên cạnh đó đã tổ chức nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu liên quan đến âm nhạc cung đình.